Tiếng Việt  |  English

Lễ Húy nhật cố Hòa thượng Thích Diệu Hoằng tại chùa Kim Quang – Huế

Sáng ngày 19 tháng 8 năm Đinh Dậu (8/10/2017), chư Tăng và Phật tử Chùa Kim Quang, thành phố Huế, trang nghiêm tổ chức Lễ kỷ niệm Húy nhật lần thứ 33 cố Hòa thượng Thích Diệu Hoằng (1914-1984).

Buổi lễ dưới sự chứng minh của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh – Thượng thủ Tăng Đoàn GHPGVNTN, Hòa Thượng Thích Chí Thắng- Trưởng Ban Điều Hành Tăng Đoàn Thừa Thiên Huế, cùng chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và đông đảo Phật tử các giới.

Buổi lễ diễn ra trang nghiêm và ấm cúng, trong niềm hoan hỷ của tứ chúng.

Như chúng ta biết, Chùa Kim Quang, tọa lạc số 18 Duy Tân, phường An Cựu, thành phố Huế. Do Thượng tọa Thích Minh Tuệ đương vi Giám Tự, điều hành công việc tại Chùa. Từ ngày Thượng tọa đảm nhận trách nhiệm Giám tự, ngôi chùa trở nên khang trang và thu hút được nhiều Phật tử lui tới tu học. Tuy chưa đầy hai năm tính từ ngày được công cử, Thượng Tọa đã thâu nhận một chúng xuất gia hơn 10 vị, duy trì quy củ thiền môn nghiêm tịnh và hướng dẫn Phật tử tu học tinh tấn. Do vậy mà chùa Kim Quang được dân trong vùng biết đến nhiều hơn, làm cho cơ sở của Tăng Đoàn ngày một vững mạnh.

Dưới đây là tiểu sử của cố Hòa thượng Tâm Lượng – Diệu Hoằng (1914-1984)

1- Thân thế

       Hòa thượng thế danh là Nguyễn Lộc.

       Ngài sinh giờ Dậu (từ 17 đến 19 giờ) ngày mồng 7 tháng 6 năm Giáp Dần (ngày 29.6.1914), tại làng Trung Kiên, tổng Bích La, phủ Đăng Xương, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (Nay là thôn Trung Kiên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong).

Thân phụ Hòa thượng là cụ ông Nguyễn Văn Thùy, pháp danh Chân Chánh, tự Thành Du. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn thị Miêu, pháp danh Chân Diệu.                                                                      

2- Xuất gia, học Đạo

        Năm 17 tuổi, nhân vía Phật Thích Ca xuất gia, mồng 8 tháng 2 năm Tân Mùi (ngày 24.3.1931), Hòa thượng xin phép song thân vào Huế, đến chùa Thệ Đa Lâm, đảnh lễ Hòa thượng Khai sơn Trừng Huệ Giác Viên, cầu xin thọ giáo. Được Hòa thượng hoan hỷ chấp nhận. Bẫm tính vốn thông minh, lại được thân phụ giảng dạy những điều căn bản lúc còn ở nhà, nên vào chùa mới được hơn một năm, Hòa thượng đã tỏ rõ chí nguyện kiên cường của người xuất gia. Ngoài thì giờ chấp tác việc chùa không quản khó nhọc, thì giờ còn lại Hòa thượng chuyên tâm học tập Kinh Luật, tham vấn học hỏi với Bổn sư.

       Hòa thượng Trừng Huệ Giác Viên (1883-1942) Tổ khai sơn chùa Thệ Đa Lâm, (Ngôi chùa này, năm Quý Dậu, 1933, ngài cho dời lên một ngọn đồi gần đó rồi đổi tên là chùa Hồng Khê) là bậc Cao tăng đa văn bác học, ngài không chỉ uyên thâm Tam tạng giáo điển mà còn tinh thông cả Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo. Một trong Chín vị Cao đệ kỳ vĩ ở hàng chữ”Giác”của Tổ khai sơn chùa Tây Thiên, Thanh Ninh Tâm Tịnh (1868-1928).

       Đệ tử xin tham học với ngài rất đông, về sau đều trở thành những bậc long tượng của Phật giáo, như Hòa thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu (1905-1992) đức Đệ tam Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng Thị Chí Phúc Hộ (1904-1985) trú trì chùa Sắc tứ Từ Quang ở tỉnh Phú Yên, Hòa thượng Tâm Như Trí Thủ (1909-1984) Nguyên Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Năm Tân Dậu, 1981, là Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Hồng Nam Huyền Không (1906-1983) trú trì Tổ đình Quốc Ân, Huế…

       Năm Nhâm Thân, 1932, Hòa thượng được Bổn sư thế phát cho lãnh thọ giới Sa di và đặt pháp danh là Tâm Lượng, pháp hiệu Diệu Hoằng, thể nhập đời thứ 43 dòng Thiền Lâm tế Chánh tông, đời thứ 9 dòng Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán.

Suốt ba năm cần mẫn hành trì, tu tập, đến ngày 15 tháng 6 năm Ất Hợi (ngày 15.7.1935), Hòa thượng được đăng đàn thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Sắc tứ Tịnh Quang, tỉnh Quảng Trị. Đại giới đàn này Hòa thượng Ngộ Tánh Phước Huệ, khai sơn Hải Đức am, trú trì chùa Sắc tứ Kim Quang, làm Đàn đầu Hòa thượng.

3- Sự nghiệp Hoằng pháp

       Sau khi lãnh thọ Đại giới, Hòa thượng trở về chùa Hồng Khê hầu hạ Bổn sư và chuyên tâm hành trì, tu tập. Năm Canh Thìn, 1940, Sơn môn Tăng già Trung Việt, ủy cử Hòa thượng vào trú trì chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Suốt thời gian bảy năm trú trì ngôi chùa này, Hòa thượng không chỉ chỉnh trang, tu bổ, mà còn góp sức cùng Sơn môn Tăng già trong việc chỉnh đốn Môn quy, chấn hưng Phật giáo ở miền Cao nguyên đất đỏ này.

       Năm Nhâm Ngọ, 1942, Bổn sư của Hòa thượng viên tịch, tưởng nhớ ân đức sâu dày của vị thầy khả kính, Hòa thượng cảm xúc viết nên mấy câu thơ chân thành, tha thiết với niềm ngưỡng vọng:

                      Cửa các Hoa nghiêm khép cánh mây,

                      Trông lên vòi vọi nhớ ơn thầy,

                      Bao nhiêu cảnh giới nào qua lại,

                      Nghìn dặm bên trời cánh nhạn bay.

       Năm Mậu Tý, 1948, vâng ý chỉ của Hòa thượng Tòng lâm Pháp chủ Trung Việt Thích Tịnh Khiết, Hòa thượng trở về Huế, đảm nhận chức vụ trú trì chùa Diệu Đế. Một trong ba ngôi Quốc tự ở kinh đô Huế đã giao cho Sơn môn Tăng già quản nhậm. Suốt thời gian trú trì chùa Diệu Đế, ngoài việc đóng góp tiền của cho”Viện Bảo tàng cổ tích Huế”trùng hưng ngôi chùa này, Hòa thượng còn thành lập Di Đà hội, nhằm tạo cơ duyên cho tín đồ, Phật tử đến hội họp, nghe pháp, hành trì tu niệm. Có thời gian Hòa thượng lại cho nhà in Liên Hoa, đặt cở sở để in  kinh sách Phật giáo, trước khi nhà in này dời lên số 1 kiệt Từ Quang. (Nay là đường Thích Tịnh Khiết, trước mặt Tổ đình Tường Vân).                                                                       

      Năm Canh Tý, 1960, Hòa thượng về thăm quê hương Quảng Trị, nhìn cảnh hư hoại, đổ nát của ngôi Tổ đình Tịnh Quang, Hòa thượng đã vận động Tăng Ni, tín đồ bổn đạo trùng tu ngôi Sắc tứ này.

Năm Ất Tỵ, 1965, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất miền Vạn Hạnh, khai Đại giới đàn Vạn Hạnh, tại Tổ đình Từ Hiếu, cung thỉnh Hòa thượng làm Đệ lục Tôn chứng Đại giới đàn này.

       Năm Giáp Dần, 1973, Hòa thượng thấy sức khỏe càng lúc càng yếu, nên thỉnh cầu Giáo hội ủy cử vị tôn túc khác thay chức vị trú trì chùa Diệu Đế, để Hòa thượng được nghỉ ngơi và vào Nam chữa bệnh. Suốt thời gian gần bảy năm vừa chữa bệnh vừa hoằng hóa ở miền Nam, Hòa thượng mới trở về lưu trú và an dưỡng tại chùa Kim Quang, Huế. Năm Tân Dậu, 1981, sau khi Hòa thượng Chân Truyền Chánh Kế xin thôi đảm nhận chức vị trú trì chùa Kim Quang, thể theo lời thỉnh cử của Môn phái chùa Hải Đức và Kim Quang, Hòa thượng lên đảm nhận chức vị trú trì.

      Tuy chỉ có bốn năm ngắn ngủi làm trú trì, nhưng ngài vẫn dành nhiều thì giờ để sửa sang, tu bổ các công trình kiến trúc của chùa. Nhờ thế mà ngày nay, chùa Kim Quang không chỉ có giá trị mỹ thuật về lối kiến trúc theo phong cách chùa Huế, mà còn có vị trí xứng đáng trong quần thể chùa tháp ở miền đất Cố đô này. Điều đáng ghi nhớ ở đây nữa là trong thời gian đảm nhận chức vụ trú trì, Hòa thượng đã có Di chúc là”Sau khi công cuộc trùng tu chùa hoàn chỉnh, thì hiến cúng cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, để làm cơ sở sinh hoạt” Tâm nguyện lớn lao của Hòa thượng, đã được chư tôn đức ngày nay hết lòng tán thán.

       Năm Nhâm Tuất, 1982, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên làm lễ ra mắt tại chùa Từ Đàm, Huế, Giáo hội này đã cung thỉnh Hòa thượng vào hàng Giáo phẩm chứng minh.

4- Nhiếp hóa đồ chúng

        Trong sự nghiệp Nhiếp hóa đồ chúng, Hòa thượng cũng không ngừng chăm lo giáo dưỡng, đào tạo nên những đệ tử thực học, thực tu, để kế thừa mạng mạch Chánh pháp. Ngày nay, đệ tử của ngài đều là những bậc Tỳ kheo ưu tú, đã đóng góp nhiều công sức cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam như quý Thượng tọa Thích Toàn Đức, Thích Toàn Thiện, Thích Toàn Châu, Thích Toàn Thiệt, nhất là Thượng tọa Thích Toàn Lạc, người đã phụng hành Di chúc của Bổn sư, trực tiếp viết”Giấy cúng chùa”cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất…       

5- Ngày tháng cuối đời

       Đầu năm Quý Hợi, 1983, sức khỏe của Hòa thượng có nhiều suy giảm, như”dự tri”thời khắc từ giã môn đồ, đệ tử chẳng còn bao lâu, nên Hòa thượng cho xây ngôi bảo tháp, để làm nơi gởi gắm tấm thân tứ đại. Những lúc khỏe, Hòa thượng luôn nhắc nhở các đệ tử:”Hãy cố gắng tu học, chăm lo việc chùa, kẻo luống uổng chí nguyện cao quý của người xuất gia và đắc tội với Tam bảo”.

       Ngày 14 tháng 8 năm Giáp Tý (09.9.1984) nhân lễ Bố tát của chư Tăng tại chùa Linh Quang, dù sức khỏe suy kém, nhưng ngài vẫn về tham dự, gặp gỡ hàn huyên tâm sự cùng pháp hữu, huynh đệ. Đây cũng là lần cuối cùng Hòa thượng có mặt tại giới trường Bố tát chùa Linh Quang. Sau lễ Bố tát, Hòa thượng trở về chùa nghỉ ngơi được mấy hôm, đến lúc 01giờ 05 ngày 20 tháng 8 âm lịch (ngày 15.9.1984) ngài an nhiên xả bỏ báo thân. Hưởng thọ 71 tuổi (theo âm lịch) và 48 Hạ lạp.

       Chân dung và Long vị của Hòa thượng hiện phụng thờ tại nhà hậu Tổ chùa Kim Quang, Huế. Long vị của ngài có nội dung:”Từ Lâm tế tứ thập tam thế, Kim Quang tự trú trì, thượng Tâm hạ Lượng, hiệu Diệu Hoằng, Tôn chứng A xà lê giác linh thượng tọa”.

Bảo tháp của Hòa thượng được Môn đồ xây dựng trong khuôn viên chùa Kim Quang, Huế (Phía trái Chánh điện).