Tiếng Việt  |  English

Vô úy, vô ưu: viết riêng cho người đồng đạo


ảnh sưu tầm

Đạo lực của qúi thầy sẽ tỏa sáng để hàng phật tử cư sĩ nương theo mà phát triển đạo hạnh, chấm dứt tà niệm và ác ngữ. Đó chính là chức năng cao cả của người tu sĩ Phật giáo.

 

Tôi sinh ra trong một gia đình theo Phật giáo và đã quy y từ năm 14 tuổi.

Theo lời dặn của thầy bổn sư, ít nhất một lần mỗi 4 tuần, tôi ôn tụng và quán chiếu ngũ giới để mong sự học hỏi và hành trì được ngày thêm sâu rộng: tôi là một cư sĩ phật tử.

Thưa như vậy, là để nói rõ thư này xin là lời chia sẻ chỉ với những người đồng đạo, tu sĩ cũng như cư sĩ Phật giáo, về một khía cạnh nhìn vào tình trạng cũng như thế đứng của Phật giáo Việt Nam hiện nay, của một phật tử Việt Nam đã quá lục tuần và hiện đang sống ở hải ngoại.

Lẽ dĩ nhiên đây chỉ là những kinh nghiệm và nhận thức của một người, do đó hạn hẹp, thiếu sót và có thể sai lầm. Giỏi lắm thì cũng chỉ là một khía cạnh nhỏ của sự thực.

Sở dĩ tôi mạo muội viết ra hôm nay, vì bên cạnh nhận định đau buồn về những hình thức tào tạp của đạo Phật thời cận đại, gần đây lại thêm sự tranh cãi càng ngày càng gay gắt trong tứ chúng về vấn đề liên quan đến các Giáo hội.

Là đệ tử của Phật, chúng ta thường nhắc một cách hân hoan tới những lời thán phục của thế giới đối với đạo giáo của chúng ta, nhưng thay vì hãnh diện có lẽ chúng ta nên để tâm tìm hiểu số người thật tình chịu khó đi sâu vào tinh thần Phật Giáo liệu có đủ để bảo vệ cốt tủy của đạo Phật hay không?

Khi Đức Phật xác định Phật tính của mọi người trong chúng ta:

“Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
“Ta là bậc đạo sư chỉ cho mọi người con đường đi.”

thì ngài cũng chỉ rõ trách nhiệm của chúng ta: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”.

Và hơn thế nữa ngài còn nói với chúng ta, những kẻ đi theo sự chỉ dạy của ngài:

Tin ta mà không hiểu ta, ấy là bài báng ta vậy “.

Điều này cho thấy, không những người Thầy tối thượng của chúng ta cho phép mà còn đòi hỏi chúng ta phải thực nghiệm sâu xa mọi việc, hành xử hợp với lý trí xét đoán của mình, làm sao đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho những kẻ khác.

Tuy nhiên, từ khi đảng Cộng sản Việt Nam lên nắm quyền trong nước, gây ra một cuộc chạy nạn ra nước ngoài vô tiền khoáng hậu, cho đến khi phật tử VN tương đối an cư lập nghiệp trên khắp thế giới và những chùa chiền xuất hiện to nhỏ, nhiều ít tùy theo con số phật tử sinh sống tại vùng đó, nếu theo sát những sinh hoạt cho tới nay thì tiếc thay những đề tài thường được đem ra bàn luận, trao đổi, thực nghiệm, không phải là sức mạnh phát xuất từ cốt tủy của Phật giáo  mà  phần lớn  là những hô hào, cãi vả, nhai đi nhai lại về hai đề tài TIỀN BẠC và CHỐNG CỘNG SẢN như bất cứ một hội hè không có tính cách tôn giáo nào khác.

Thử nhìn vào thực tế của vấn đề tiền bạc.

Nhắc tới tiền bạc thì chúng ta nằm lòng lời Phật dạy là tự thân tài sản và tiền bạc chưa nói lên được điều gì. Chính thái độ cũng như cách hành xử của con người đối với tiền bạc mới là vấn đề. Trong trường hợp này, tiền bạc và tài sản có thể là vô nghĩa, nhưng nơi khác, chúng có thể là phương tiện dẫn đến an lạc, hạnh phúc, hoặc chính là đối tượng tiềm ẩn nguy hiểm, đau khổ và bất an.

Phật tử VN đến cư trú tại Mỹ, Úc, hoặc các nước Âu châu, là đến nhập vào những quốc gia chịu ảnh hưởng Kitô giáo, do đó khắp mọi nơi có sự hiện diện của những cơ sở tôn giáo của đạo này. Những tu sĩ Kitô giáo VN tới đâu là có chỗ nương dựa tới đó, nhà thờ nhà họp có sẵn, vấn đề cơm ăn áo mặc sức khoẻ, ngay cả tiền túi cũng có trung ương cấp phát, không phụ thuộc trực tiếp sự đóng góp của giáo dân. Những vị này tương đối được rảnh tay về mặt tiền bạc mà lại có thế mạnh đối với giáo dân là lo cho giáo dân mà không đòi hỏi đóng góp.

Bên Đức, người theo Kitô giáo đi làm phải đóng “thuế nhà thờ” cho chính phủ và tiền này sẽ được chuyển lại cho giáo hội. Mới đây, sau vụ án giám mục công giáo Tebartz van Elst dối trá và che dấu hoang phí khoảng 31triệu Euro để trùng tu nơi cư trú của mình tại Limburg/ Đức quốc  (số tiền này gấp 10 lần so với dự toán ban đầu), dư luận Đức vẫn còn sôi nổi vì khám phá rằng theo một điều luật cũ từ nhiều thế kỷ, bên cạnh “tiền thuế nhà thờ” đa số các tiểu bang vẫn phải xuất một phần ngân sách để phụ giúp trả tiền lương cho các cấp tổng giám mục, giám mục, phụ tá giám mục… nghĩa là xử dụng cả tiền đóng thuế của những người dù không theo Kitô giáo nhưng sống và làm việc tại Đức.

Trở lại với sinh hoạt của Phật giáo VN tại hải ngoại, phần lớn những chùa chiền, thiền viện và ngay cuộc sống thường ngày của các vị tu sĩ là do sự đóng góp của phật tử dưới mỹ từ “cúng dường tam bảo”. Rất ít các tu sĩ có nghề nghiệp “ngoài đời” để có thể sống tự túc. 

Cúng dường là tập tục có tính cách tự nguyện rất đẹp của Phật giáo Á Đông để người cư sĩ và người tu sĩ nương dựa vào nhau đi theo con đường của Đức Phật.

Thường thì các phật tử săn sóc ủng hộ các tu sĩ các nhu cầu vật chất tối thiểu và biểu lộ chân thành lòng thương yêu, kính trọng. Bù lại, người tu sĩ vô sản, trọn ngày chỉ học Phật Pháp và hành Thiền định, để có khả năng trao cho người cư sĩ các hiểu biết về Phật pháp, giới thiệu cho người cư sĩ con đường chân chính, đoạn khổ, với một tấm lòng từ bi và lân mẫn.

Tuy nhiên trong cuộc sống lưu vong tản mác, xảy ra tình trạng kém hay là các vị tu sĩ không sống chung thành đoàn thể để tu học, nâng đỡ và đồng thời giúp nhau giữ giới luật, lại thêm sự thừa mứa vật chất nên mỗi người một chùa hay mỗi người vài chùa. Từ đó một tu sĩ mà chung đụng với hàng chục cư sĩ thân tín để lo việc chùa hàng ngày, lại lệ thuộc tài chánh, chùa càng to lệ thuộc càng nhiều vào cư sĩ, càng ít thì giờ để tu tập, càng khó có khả năng để hướng dẫn người cư sĩ học và tìm hiểu Phật pháp. Sinh hoạt chùa chiền/giáo hội nặng dần về hành chánh, phô trương, tính toán. Đạo đức cũng yếu thế dần trước sức mạnh của đồng tiền. Người tu sĩ không cáng đáng tròn vẹn chức năng của mình, còn người cư sĩ cúng dường như đi mua một món hàng. Không vừa ý thì rêu rao bôi bác, hoặc có khi còn đòi lại.

Cả hai bên đã sao lãng mục đích ban đầu, quên rằng tất cả mọi người luôn luôn chịu trách nhiệm hành động của mình. Cư sĩ và tăng ni luôn tương tức với nhau. Cư sĩ cúng dường cho vị tăng nào là kết duyên với họ. Vị tăng xấu, phá giới thì người cư sĩ cúng dường mù quáng cũng cùng chung (cộng nghiệp) gánh lấy hậu quả tội lỗi của họ. Vị tăng biết người cư sĩ phạm giới mà không khuyên can để được nhận cúng dường, để mượn tay người cư sĩ thỏa mãn lòng tham sân si, vọng ngữ của mình, cũng đồng thời nhận trách nhiệm nhân quả.
Tóm lại, tiền bạc và tài sản chỉ là phương tiện sống không thể thiếu của con người, và phật tử xuất gia hay tại gia cũng không là ngọai lệ. Nhưng xây dựng chùa chiền để cùng nhau tu học miên mật trong tình đồng đạo ấm cúng, hay chùa chiền để phô trương sơn son thếp vàng, ai ngồi mâm trên, ai đội áo mão. Nếu không có kẻ lạy thì không có người nhận lạy, nên thanh tịnh hay tha hóa, thì cả tăng lẫn cư sĩ đồng chịu trách nhiệm. Lúc hữu sự không nhìn được những sai trái của chính mình mà chỉ lo buộc tội người khác chính là vô minh.

Sự trợ cấp của những tổ chức chính phủ hay phi chính phủ.

Trong những xã hội Tây phương, mạng lưới xã hội có rất nhiều cơ quan cũng như tổ chức có nhiệm vụ hỗ trợ cho sự tự do no ấm, về mặt vật chất cũng như tinh thần của người dân. Khi số phật tử VN tụ lại một nơi nào đủ đông để lập chùa (hay cơ sở sinh hoạt như Niệm phật đường), thì chùa có những sinh hoạt đảm nhiệm năng chức này. Do đó những chùa (hay giáo hội) có tổ chức hành chánh đúng luật có thể được hưởng một chút quyền lợi pháp lý tương đương với các nhà thờ bên Kitô giáo, thí dụ được phép cấp giấy miễn thuế cho những người hỗ trợ tài chính các sinh hoạt của chùa, hoặc không phải đóng thuế nhiều nếu có cung cấp những dịch vụ (buôn bán sách vở, những vật cần thiết trong đời sống tôn giáo,v.v… ), hoặc trong vài trường hợp hiếm hoi, nếu có ảnh hưởng tốt cho an lạc trong xã hội, còn được cả sự giúp đỡ tài chánh hoặc đất đai, phòng ốc.
Tại Đức, một vị cao tăng đã đứng mũi chịu sào, bảo bọc tinh thần cho phật tử VN suốt 35 năm, rất được kính trọng và ủng hộ của chính phủ thành phố Hannover. Sau này, chính phủ Liên bang Đức với sự đồng ý của tất cả các đảng phái và dân cư thành phố Waldbroel (gần Bonn) cũng đã giao cho một thiền sư VN tòa nhà quan trọng nhất của thành phố để thành lập Viện Phật Học. Đó chỉ là vài thí dụ.

Thử nhìn vào thực tế của vấn đề chống cộng sản.

Hệ thống giá trị của Phật giáo đậm nét hòa bình, không hận thù, bất bạo động.

Nếu vạn bất đắc dĩ phải dùng đến chữ “kẻ thù” thì kẻ thù của ta là bạo động, u mê, bất công, là cưỡng bách, chiếm đoạt, đàn áp, bóc lột. Dù “kẻ thù” này có mang tên Cộng sản hay độc tài hay bất cứ một cái bảng hiệu hoa mỹ nào, thì với tuệ giác của Đạo Phật, ta thừa sức để nhận diện kẻ đó.

Học đức tính từ bi của Phật, người phật tử không thể sống để ngày đêm tâm niệm tiêu diệt người khác, nhưng từ bi trong đạo Phật luôn đi đôi với trí tuệ. Hiền lành, tử tế không có nghĩa là thụ động, để mặc cho người khác dày đạp, tiêu diệt mình hay người chung quanh mình. Bất bạo động không phải là bất động.

Tuy phật tử VN đều đồng lòng mong muốn và đang tranh đấu đòi dân chủ cho VN, nhưng một giáo hội Phật giáo cần nhận định rõ ràng những phương cách thích hợp với  chức năng của một giáo hội. Con đường tranh đấu cho hoà bình an lạc của Phật giáo là con đường phát huy trí tuệ, đạo đức.

Một cơ quan thông tin của một giáo hội cần mang hình thức tôn giáo rõ ràng, và cẩn trọng trong cách xử dụng ngôn từ cho thích hợp với Đạo Phật, một đạo giáo của trí tuệ. 

Cùng đi với nhau trên con đường giải thoát, cần buông bỏ không những tính cá nhân vị kỷ mà cả tính vị kỷ theo bè nhóm rồi mù quáng không nhìn thấy tính tương tức trong vạn vật.

Vị Thầy tối thượng của chúng ta đã trao lại một cơ sở lý thuyết vững chắc cùng những phương thức hành động cụ thể. Chúng ta chỉ cần hiểu và thực sự ứng dụng sự trao truyền của Đức Phật vào cuộc sống thực tế trong xã hội tức thời quyền Sống, quyền Tự do, quyền Bình đẳng nghiễm nhiên có một giá trị hiện thực. Người phật tử đã thực chứng những điều dạy của giáo pháp ắt có tự tin, tự trọng và tự chủ, không bị đảo điên, phập phồng tới mức lúc nào nhìn sợi giây thừng cũng ngỡ là con rắn cộng sản. 

Trong kinh Alagaddupamasutta, Đức Phật đã dạy nếu ta biết mình, biết rắn,và nắm vững thủ thuật bắt rắn, thì ngay cả rắn độc vẫn có thể bắt mà không lao nhọc hoặc bị rắn mổ.

Bản lai diện mục, bộ mặt thật xưa nay.

Sự có mặt hiện nay của nhiều tông phái, nhiều giáo hội Phật giáo là một sự thật. Tuy khác nhau hình thức để phù hợp với hoàn cảnh, tâm lý và thời điểm, nhưng giữ nguyên căn bản của đạo Phật, mang dấu ấn của giáo lý vô thường, vô ngã và duyên khởi.

Thật ra cách phân biệt giả chân, một tông phái hay giáo hội là Phật giáo đích thực hay không, rất đơn giản: Đức Phật đã khẳng định ngài không là một vị thánh thần đầy uy quyền thưởng phạt để tôn thờ, cốt tủy của Phật giáo là trí tuệ và sự thực chứng. Hẳn nhiên Đạo Phật không chấp nhận lòng tin mù quáng, không chủ trương những hình thức mê tín dị đoan. Rõ ràng hơn hết là 
Phật giáo không thần phục nô lệ cho bất cứ một người hay một chủ nghĩa nào cả.

Những yếu điểm hiện nay của Phật giáo thật ra không phải do sự thành công xâm nhập của những đánh phá bên ngoài mà chính vì sự thiếu truyền thông, một phần nhỏ do hoàn cảnh không gian cách trở, phần lớn do thiếu đức lắng nghe với tuệ giác và tâm từ bi, để hiểu và nắm vững sự việc trước khi phán xét, phản ứng và trách móc. 

Trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại, lẽ dĩ nhiên cũng đã xảy ra vài điều đáng tiếc. Rất may các vị cao đức của Phật giáo đều có khả năng phản quang tự kỷ để nhận rõ đó chỉ là những ý niệm và tri giác sai lầm để dễ dàng buông bỏ.

Đạo lực của qúi thầy sẽ tỏa sáng để hàng phật tử cư sĩ nương theo mà phát triển đạo hạnh, chấm dứt tà niệm và ác ngữ. Đó chính là chức năng cao cả của người tu sĩ Phật giáo.

Buông bỏ ý muốn hơn thua.

Những vấp váp rối ren ngày nay trong sinh hoạt Phật giáo chỉ rõ Phật giáo VN đã không thành công trong việc nhìn rõ thực tại tâm lý, xã hội, kinh tế của thời đại để áp dụng giáo lý một cách thông minh, cởi mở, để khế hợp với những điều kiện mới. 

Có những cuộc tranh cãi rối như mớ bòng bong, chỉ đơn giản xuất phát từ sự trộn lẫn giữa Giáo lý và luật lệ trong giáo hội là những luật lệ hành chánh. Điều kém đẹp không phải là những lúng túng, nhầm lẫn đến từ những kinh nghiệm hành chánh non nớt của một giáo hội mới được 50 tuổi, lại vay mượn từ bên ngoài để mong chuyển đổi một hệ thống liên hệ chiều ngang bình đẳng qua hệ thống liên hệ chiều dọc, trên dưới. 

Điều đáng buồn phiền là cách cư xử thiếu cẩn trọng giữa những người đồng đạo với nhau.

Đạo Phật tuy không những cho phép mà còn khuyến khích sự cật vấn tranh luận, nhưng điều không thể chấp nhận được là những cuộc tranh cãi không thể hiện truyền thống từ bi, khoan dung, vô úy và giải thoát của Đạo và thái độ bảo thủ vì thói quen, thành kiến và cố chấp đang đưa tới bế tắc. 

Trong khi nếu thật tình muốn chung vai xiển dương đạo pháp, đóng góp một nền tảng luân lý vững chắc để xây dựng một xã hội tiến bộ, đạo đức cho mọi người, thì chỉ cần buông bỏ ý muốn hơn thua.
Nếu không có khuynh hướng chứng tỏ là mình hoàn toàn đúng, khi nghiêm trách một vị tăng phạm giới, thì đồng thời phải xét lại tại sao những vị tăng và cư sĩ sinh hoạt với vị này, ngay khi xảy chuyện, đã không nhóm họp để tìm hiểu và bênh vực vị tăng nếu vị này bị hàm oan? Hoặc nếu vị này phạm giới thì phải tức thời xử theo giáo luật để bảo vệ sự thanh tịnh của tăng đoàn?
Nếu không chú tâm buộc tội kẻ khác thì khi chê trách một người bưng bít tin tức để sai xử người khác thì đồng thời phải xét lại tại sao bao năm tháng dài mà một số đông người sống trong tự do, đầy đủ mọi thứ, lại giao cả một hệ thống thông tin vào tay lèo lái của một người?

Không có người kiên trì đưa tin nhiều chiều sao có người nhận đủ tin tức để có thể lấy quyết định tốt nhất?

Sự có mặt hiện nay của nhiều tông phái, nhiều giáo hội Phật giáo là một sự thật.

Mỗi tông phái, mỗi giáo hội Phật giáo, đích thực hoạt động tự do, đều đang đóng góp hoằng dương Chánh pháp dưới nhiều hình thức khác nhau. Những khúc mắc hiện nay càng chứng tỏ mọi tông phái, mọi giáo hội cần chú tâm thêm vào việc tu học, hành trì giới luật nghiêm mật, và soi rọi ánh sáng trí tuệ để khế hợp với những điều kiện sinh hoạt mới, và nhìn rõ tính tương tức với nhau.

Nếu ngày mai, mọi phật tử, tu sĩ cũng như cư sĩ, bảo nhau “dừng lại”, lấy thanh gươm trí tuệ cắt đứt tham đắm, sân hận đang đưa mình vào ác ngữ và ác nghiệp, thì chúng ta đã thể hiện được sức mạnh thực sự của Phật giáo.    

Đức Bổn Sư đặt lòng tin vào mọi người chúng ta đều có khả năng đó và đã gởi Giáo pháp của Ngài cho chúng ta trì giữ và phát triển.

Chỉ có ánh sáng của trí tuệ Ba La Mật mới đuổi được màn vô minh.

Cuối năm Quý Tỵ (2014)

Thục-Quyên            

Các tin khác

Đơn Kháng Án – Phản đối quyết định bất công của Tòa án huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Thầy Đạt đã di chúc lại chuyển sở hữu đất đai và ngôi Tịnh thất Đạt Quang lại cho Tôi là hoàn toàn hợp Đạo và hợp pháp. Việc Ủy ban Nhân dân xã Bàu Lâm không công nhận bản di chúc của Thầy Thích Thiện Đạt và Tòa án huyên Xuyên Mộc ra quyết định đòi lại quyền sở hữu hợp pháp của Tôi với ngôi Tịnh thất Đạt Quang là hoàn toàn trái pháp luật, đi ngược lại tinh thần tự do tôn giáo trong các văn bản hiện hành của nhà nước Việt Nam.

Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam tiếp phái đoàn Bộ ngoại giao Hoa Kỳ

Vào lúc 14h ngày thứ tư 24/5/2017, tại chùa Giác Hoa , 15/7 Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh, Sài gòn, phái đoàn Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gồm có bà Virginia Bennett, quyền trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách dân chủ và nhân quyền; cô Pamela Pontius, viên chức chánh trị Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn; ông Daniel W Wright, trưởng phòng Tự Do Tôn Giáo Thế Giới thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ; ông Rodney M Hunter, phụ tá Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đã đến gặp gỡ và làm việc với Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đến thăm HT. Thích Không Tánh

Vào lúc 16 giờ ngày 14 tháng 01 năm 2017, phái đoàn Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gồm có: ông David Saperstein - Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, Bà Pamela Pontius - Viên chức Chính trị Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn và ông Trần Hoa - Trợ lý Chính trị đến chùa Giác Hoa thăm Hòa thượng Thích Không Tánh.

Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại Hội Nghị và Khóa Tu Mùa Đông

Lịch sử không là một chớp mắt, Phật sự cũng không phải một sớm một chiều. Sức người có hạn, mà công việc thì lại vô hạn vô biên; bằng tất cả khả năng có thể, Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại nguyện cống hiến tâm lực, nguyện lực và hạnh lực của mình cho đại sự, còn vấn đề thành tựu lớn hay nhỏ, nhanh hay chậm còn tùy thuộc rất nhiều vào nổ lực chung của nhiều đoàn thể, tổ chức, cá nhân và những yếu tố lịch sử mang tính đa diện...”

Viên chức chính trị Lãnh sự quán Hoa Kỳ thăm HT. Thích Không Tánh

Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với chính phủ Việt Nam về vụ việc của Chùa Liên Trì cũng như các tổ chức tôn giáo khác tại khu vực tái phát triển Thủ Thiêm hiện đang gặp những thách thức tương tự. Chúng tôi cũng mạnh mẽ khuyến khích Hòa thượng và các đại diện khác của Cộng đồng Phật giáo tại Thủ Thiêm tiếp tục phản ánh quan ngại trực tiếp với các quan chức Việt Nam.

Đại bi kịch Việt Nam

ó là sự phá nát truyền thống đạo lý và văn hóa của dân tộc, là để cho việc gian dối trở thành phương châm xử thế từ quan đến dân, là sự hủy hoại thành phần tinh hoa của dân tộc để phải chấp nhận những kẻ vừa thiếu trí tuệ vừa kém đạo đức giữ những cương vị lãnh đạo và quản lý đất nước. Công nhận rằng sự phá nát, sự hủy hoại này không phải là ý đồ tự giác của CS, họ không cố tình làm những việc đó, nhưng nó là kết quả tất yếu của dấu tranh giai cấp, của vô sản chuyên chính, của công hữu hóa tư liệu sản xuất, của nền độc tài đảng trị.

Tân Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ đến chùa Giác Hoa thăm HT. Thích Không Tánh

Trong buổi thăm viếng của bà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ vào lúc 14 giờ ngày 17 tháng 10 năm 2016 tại chùa Giác Hoa, ngoài HT. Thích Không Tánh còn có các vị chức sắc trong Hội đồng Liên Tôn cùng đón tiếp, thăm hỏi và trao đổi nhiều vấn đề về chùa Liên Trì, về tự do Tôn giáo, Tín ngưỡng và Nhân quyền Việt Nam. Thời gian tiếp xúc hơn 2 tiếng đồng hồ và trước khi bà Tổng Lãnh Sự ra về, phái đoàn được chụp ảnh lưu niệm.

Kháng thư của các tổ chức Xã hội Dân sự Độc lập về việc phá hủy Chùa Liên Trì

Cực lực phản đối nhà cầm quyền Cộng sản VN từ trung ương tới địa phương đã dựa vào một nguyên tắc được hiến định và luật hóa nhưng hoàn toàn phi lý và ngang ngược: “Đất đai, tài nguyên... do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Hiến pháp đ. 53, Luật Đất đai điều 5), để tự tiện trục xuất người dân (cá nhân hay tập thể) khỏi nơi cư trú và sinh hoạt, mà đa phần vì lý do kinh doanh, lợi ích tài chính, gây nên thảm trạng dân oan lên tới hàng triệu người.

Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn kêu gọi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry quan tâm Chùa Liên Trì

Trong quan điểm bảo vệ tự do tôn giáo, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn vừa viết thư đến Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry thông báo những tranh chấp ngày càng gia tăng của chùa Liên Trì tại Việt Nam, và kêu gọi Ông Ngọai Trưởng gởi một thông điệp buộc chính quyền Cộng Sản Việt Nam hãy lắng nghe ý nguyện của người dân. Trong nhiều năm, chính quyền Cộng Sản Việt Nam thường tìm cách cưỡng chế phong tỏa ngôi chùa Phật Giáo này,ngược lại với ý nguyện của người dân, một hành động mà Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn luôn lên án với hy vọng gây được sự chú ý về vấn đề này nhằm bảo vệ ngôi chùa.

Chùa Liên Trì như “cá nằm trên thớt”

Nhà chùa chỉ có cầu nguyện rồi đưa tin đó đi, mong nhờ đoàn thể, tổ chức quốc tế, chính giới có lòng quan tâm đến tự do tôn giáo tín ngưỡng nhân quyền Việt Nam, xin lên tiếng bênh vực cho chùa. Tình cảnh như cá nằm trên thớt, họ muốn đòi thu hồi muốn lấy lúc nào lấy. Đối với nhà nước này mà họ cưỡng chế họ áp lực là họ mạnh mẽ lắm. Mình đâu có khả năng gì, chỉ biết cầu nguyện thôi. Xin các tổ chức quốc tế quan tâm, bênh vực giùm cho chùa chứ dưới chế độ này, theo như dư luận người ta nói, trước sau gì cũng cưỡng chế chùa. Quí thầy và quí Phật tử rất lo.

Quyết định cưỡng chế Chùa Liên Trì

Ngày 5/9/2016 nhà cầm quyền CSVN gởi giấy mời Hòa thượng Thích Không Tánh đến Văn phòng Hội Đồng Nhân Dân quận 2 làm việc với nội dung: “dự buổi tiếp xúc, vận động, đối thoại liên quan đến việc thu hồi đất đối với cơ sở thờ tự chùa Liên Trì”. Những tưởng việc bảo tồn Chùa Liên Trì khỏi cưỡng chế đã có tia hy vọng, nhưng sự thật thì ngày 1/9/2016 nhà cầm quyền Cộng sản đã ký quyết định cưỡng chế Chùa Liên Trì.

Chùa Liên Trì được sự quan tâm rất lớn của Hoa Kỳ

Chính phủ Hoa Kỳ tôn trọng thể chế chính trị Việt Nam, đồng thời nhà nước Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo và các quyền con người cho người dân của mình. Vụ việc liên quan đến Chùa Liên Trì được sự quan tâm rất lớn của Chính phủ Hoa Kỳ, các nghị sĩ Hoa Kỳ và Bộ ngoại giao Hoa Kỳ

Tuyên bố của Các tổ chức xã hội và chính trị Việt Nam ủng hộ Tòa án Trọng tài

Phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực ngày 12-07-2016 hoàn toàn có hiệu lực pháp lý ràng buộc đối với Trung Quốc và các bên liên quan theo luật pháp quốc tế; do đó, yêu cầu nhà cầm quyền Bắc Kinh phải tuân thủ phán quyết này và qua đó chứng tỏ mình là một quốc gia văn minh và có trách nhiệm giữa cộng đồng quốc tế.

Cộng sản Việt Nam ra quyết định cưỡng chế Chùa Liên Trì

Hôm nay ngày 8 tháng 7 năm 2016, theo tin từ Chùa Liên Trì cho biết: Lúc 9h UBND quận 2 cùng UBND phường An Khánh, khoảng 20 người đến chùa Liên Trì thông báo về việc thu hồi cưỡng chế chùa Liên Trì. Nhưng Hòa thượng Thích Không Tánh viện chủ chùa Liên Trì và Tỳ kheo Thích Đồng Minh không làm việc với UBND, cho nên UBND quận 2 dán tờ quyết định lên tường chùa và ra về.

Tại sao nhà cầm quyền quyết tâm cưỡng chế giải tỏa chùa Liên Trì?

Chùa Liên Trì là một trong số ít ỏi những ngôi chùa còn giữ được truyền thống thuần túy của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất kể từ sau biến cố năm 1975. Do vị trí đắc địa nằm gần bờ sông Sài Gòn, đối diện với khu trung tâm sầm uất của quận 1 nên chùa Liên Trì nằm trong “khu đất vàng” của thành phố. Vì vậy ngôi chùa đã lọt vào tầm ngắm của những nhóm lợi ích.

Thông báo khẩn của Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam

Theo một nguồn tin đáng tin cậy được Hoà Thượng Thích Không Tánh xác nhận, Uỷ Ban Nhân Dân quận 2, Phường An Khánh Sài gòn đã họp nhiều lần và ra quyết định sẽ tiến hành cưỡng chế giải toả, xóa bỏ chùa Liên Trì tọa lạc tại 153 Lương Đình Của, Phường An Khánh, Quận 2, Sài gòn vào ngày 23/6/2016.

Hàng ngàn người Little Saigon nghe đức Đạt Lai Lạt Ma giảng tại chùa Điều Ngự

WESTMINSTER, California (NV) - Từ sáng sớm Thứ Bảy, 18 Tháng Sáu, hàng ngàn người từ khắp nơi đổ về chùa Điều Ngự, Westminster, để đón mừng sự hiện diện và nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng.

Hội đồng liên kết trong và ngoài nước gởi kiến nghị đến các nguyên thủ quốc gia

Nhân dịp này, chúng tôi, đại diện Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại Việt Nam xin kiến nghị đến tất cả quý vị những vấn đề liên quan đến tình hình chính trị tại Việt Nam và sự bất an tại Biển Đông.

Thông báo khẩn của Hội đồng Liên Tôn Việt Nam về chùa Liên Trì

Sau 2 Tuyên bố về Chùa Liên Trì của Hòa thượng Thích Không Tánh tại Thủ Thiêm, Quận 2, thành phố Sài Gòn, vào ngày 30-08-2014 và ngày 31-05-2015; nay bước sang năm 2016, Hội đồng Liên tôn Việt Nam tại quốc nội lại buộc phải lên tiếng tố cáo tội ác chà đạp nhân quyền và tự do tôn giáo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

Tin thêm về: Vận động nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc

Hoà Thương Thích Viên Lý Đại Diện Tăng Đoàn Phật Giáo Việt Nam đã trình bày về sự đàn áp tôn giáo tại Việt nam, không những chỉ Phật Giáo , Công Giáo vì có nhiều tín đồ mà quốc tế biết đến, tất cả các tôn giáo khác cũng bị xúc phạm, tệ hại nhất là Đạo Cao Đài , Phật Giáo Hoà Hảo và Đạo Tin Lành. Tiếp theo là Đại Đức Antoni Lam Vũ đã lên tiếng tố cáo nhà cầm quyền CSVN cưỡng chếm đất đai nơi thờ phương điển hình là Chùa Liên Trì tại Sài Gòn, nơi mà Hòa thượng Thích Không Tánh trụ trì đang bi áp lực đuổi ra khỏi chùa.